Thứ hai- 22/12/2014 Đường dây nóng: 043 56 65 135
Tìm kiếm nhanh English
Tìm hiểu về nền kinh tế tri thức ( Phần 2)
Hội Khoa học Kỹ thuật

Tìm hiểu về nền kinh tế tri thức ( Phần 2) - Ngày đăng: 27/11/2009

II. Công nghệ thông tin trong nền kinh tế tri thức

Cuộc cách mạng thông tin lần này được coi là cuộc cách mạng thông tin lần thứ 5 của nhân loại. Trong lịch sử phát triển của loài người, mỗi cuộc cách mạng thông tin đều có ảnh hưởng rất rộng lớn, rất sâu sắc và rất lâu dài đối với sự phát triển nền văn minh của nhân loại.

1. Cách mạng thông tin lần thứ nhất loài người đã tạo ra tiếng nói.

1. Cách mạng thông tin lần thứ hai tạo ra chữ viết.

2. Cách mạng thông tin lần thứ ba phát minh ra nghề in.

3. Cách mạng thông tin lần thứ tư phát minh ra điện tín, điện thoại, điện báo.

4. Cách mạng thông tin lần thứ năm phát minh ra kỹ thuật số và các siêu xa lộ thông

tin cao tốc, các thế hệ mạng Internet tạo ra hạ tầng cơ sở cho thông tin quốc gia, khu vực và toàn cầu.

Chúng ta đã biết dữ liệu là những khối cơ bản trong nền kinh tế thông tin và kinh doanh dựa trên tri thức. Dữ liệu đến với chúng ta dưới 4 hình thức cụ thể: con số, chữ, tiếng động và hình ảnh. Kỹ thuật số biến các dữ liệu thành các tín hiệu 8 bít, 16 bít, 32 bít, … được nén lại và xử ký. Các siêu xa lộ thông tin cao tốc sẽ giúp cho thông tin và tri thức lan tỏa đi khắp thế giới với tốc độ ánh sáng, tới bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Thông tin và tri thức trở thành tài sản chung của nhân loại. Cứ qua 100 ngày thì lượng thông tin chuyển qua mạng Internet lại tăng lên gấp đôi.

Bản thân sự phát triển nhanh, mạnh của công nghệ thông tin đã là một cuộc cách mạng công nghệ có ý nghĩa sâu sắc. Lực lượng công nghệ thông tin có ảnh hưởng đối với tất cả các ngành kinh tế và công nghiệp. Công nghệ thông tin còn làm biến đổi cơ sở kinh tế, tăng cường khả năng chống suy thoái. Xu thế bao trùm xuyên suốt nửa đầu thế kỷ 21 sẽ là cuộc cách mạng CNTT tiếp tục phát triển nhanh chóng, tạo nên những bước nhảy vọt chưa từng có trên thế giới, tác động đến mọi lĩnh vực xã hội, đời sống kinh tế, tạo nên những nét đặc trưng chủ yếu cho một giai đoạn phát triển mới. Sự hình thành một cơ cấu xã hội mà CNTT như một nguồn lực kinh tế, được sử dụng để khuyến khích đổi mới, tăng hiệu quả, tăng năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế. CNTT còn tạo ra một loạt các cơ hội giúp thanh toán những mặt lạc hậu của đất nước và sử dụng lao động một cách hiệu quả hơn. CNTT còn là nền tảng quan trọng của quá trình hội nhập và toàn cầu hóa. Nhận xét của OECD năm 1996 cũng nêu :” CNTT là phương tiện tạo thuận lợi cho việc hình thành tri thức trong xã hội đổi mới, là phương tiện giải phóng các tiềm năng sáng tạo và tri thức tiềm ẩn trong mỗi con người”.

Trong nền văn minh mới, một đặc điểm nổi bật là sự tổng hợp tri thức. Thông tin và tri thức là nguồn lực đặc biệt, sử dụng rồi không cạn đi mà càng hoàn thiện và còn có khả năng tái sinh, khả năng tự sinh sản.

Những nước phát triển nắm trong tay khả năng tổ chức và khai thác một cách hữu hiệu tài nguyên thông tin của thế giới. Những nước chậm phát triển chưa có khả năng tổ chức và khai thác chính tài nguyên thông tin của mình, càng chưa đủ khả năng chia sẻ tài nguyên thông tin quốc tế. Đó chính là nguy cơ tụt hậu và cũng là nguy cơ nô lệ kinh tế. Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, trong buổi tiếp tổng thống Hoa Kỳ Bin Clintơn, có nói :” Điều chắc chắn là trong thế kỷ 21, khoa học công nghệ sẽ phát triển như vũ bão. Nhưng ngược lại có một nghịch lý là hố ngăn cách giữa nước giầu và nước nghèo lại ngày càng lớn”.

Ví dụ, năm 1970 thu nhập quốc dân theo đầu người của Việt Nam bằng 1/35 của Nhật Bản, thì vào đầu thập kỷ 90 tỷ lệ này là 1/100.

Đây là thách thức gay gắt, nhưng nếu ta biết cách đi tắt đón đầu, đi thẳng vào những ngành kinh tế tri thức thì đây cũng là vận hội ngàn vàng để ta đẩy nhanh công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Trong chỉ thị số 58 / CT-TƯ ngày 17/10/2000 có chỉ rõ :” Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước”

Công nghệ thông tin bao gồm các bộ phận sau đây:

1. Công nghệ truyền thông

Công nghệ mạng viễn thông ISDN, B-ISDN

Công nghệ chuyển mạch ATM/B-ISDN

Công nghệ truyền dẫn SDH

Công nghệ mạng truy cập W – CDMA, LAS – CDMA

Công nghệ thông tin di động thế hệ 2, 3, 4.

Công nghệ thông tin di động qua vệ tinh

Hệ phát thanh, truyền hình số

2. Công nghệ máy tính

Máy tính các loại : Máy tính siêu nhỏ, máy tính siêu lớn, máy tính biết đọc, máy tính biết nhận dạng tiếng nói, máy tính biết trả lời, máy tính phiên dịch hàng chục thứ tiếng, máy tính điều khiển bằng mắt, bằng ý nghĩ, máy tính quang học, máy tính hoạt động theo mô phỏng thần kinh con người, máy tính sinh – điện tử làm từ các phân tử ADN, máy vi tính phân tử, máy vi tính tranzistor nguyên tử và tranzistor lượng tử.

Gần đây công ty IBM tuyên bố là họ đã nghiên cứu chế tạo thành công máy tính lượng tử tiên tiến nhất thế giới. Máy tính thử nghiệm dùng 5 nguyên tử để làm bộ xử lý và bộ nhớ trong, tốc độ tính toán được nâng lên rõ rệt. IBM dự tính trong 2 năm tới sẽ nghiên cứu chế tạo ra các máy tính lượng tử còn tiên tiến hơn, dùng từ 7 đến 10 nguyên tử.

Mạng máy tính : Có mạng cục bộ LAN, mạng diện rộng WAN, mạng Intranet là mạng nội bộ dùng hạ tầng cơ sở và công nghệ Internet (Singapore có mạng kết nối toàn quốc duy nhất trên thế giới, 98% các gia đình Singapore đã truy cập mạng Intranet Singapore One) cuối cùng là mạng của mạng máy tính Internet ( Hiện nay mạng Internet đã liên kết trên 220 quốc gia và khu vực, nối tới hàng trăm triệu máy tính của người dùng, có thể truy cập đến hàng triệu nguồn cung cấp thông tin trên khắp thế giới. Internet không còn chỉ là một phương tiện kỹ thuật đơn thuần, mà đã trở thành một môi trường mới cho mọi hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục v..v… có tác động rất lớn đến các chuyển biến nhanh chóng của đới sông con người trên khắp hành tinh. Đến năm 2005 hầu hết các cư dân của các nước công nghiệp phát triển đều nối mạng Internet. Hình thức làm việc tại nhà thông qua máy tính điện tử cá nhân kết nối với cơ quan trở nên phổ biến, mọi người có thể theo học các trường đại học tiên tiến nhất trên thế giới thông qua Internet. Mỹ đang có kế hoạch thực hiện Internet II, với tốc độ nhanh hơn khoảng 100 đến 1000 lần so với tốc độ đường truyền hiện nay, dự kiến sẽ ra đời từ 3 đến 5 năm nữa.

Phần mềm gồm :

Công nghệ nén và xử lý tín hiệu, mã và giải mã tín hiệu tiếng nói, hình ảnh, phần mềm văn phòng, tính toán, quản lý, giáo dục, y tế v..v… Các hệ chuyên gia hỗ trợ cho các quyết định về chính sách, kinh doanh, thiết kế, xây dựng, chữa bệnh v..v… phần mềm phiên dịch, các loại từ điển tra cứu v..v…

3. Công nghệ nội dung thông tin

1. Cơ sở dữ liệu, thư tín dụng điện tử, ngân hàng điện tử, thương mại điện tử, chính phủ điện tử, giáo dục từ xa, chữa bệnh từ xa, hội nghị từ xa v..v…

2. Các dịch vụ thông tin, phát thanh, truyền hình, các sản phẩm nghe nhìn, phim ảnh, âm nhạc, báo chí v..v…

3. Công nghệ giải trí :

Sản phẩm quan trọng nhất của CNTT là siêu xa lộ thông tin cao tốc.

Siêu xa lộ thông tin là hệ thống mạng lưới thông tin tổng hợp hỗ trợ lẫn nhau có dung lượng lớn, tốc độ cao và đông đảo hộ tham gia với quy mô khu vực, quốc gia hoặc quốc tế; được truyền tải bằng sợi quang có kỹ thuật số, được xử lý bằng hệ thống máy tính đã được thông minh hóa và các thiệt bị đầu cuối đa chức năng.

Trong hệ thống này cần phải đạt được “4 hóa”

1. Thông lượng hóa cao truyền tải

Một sợi cấp quang đồng thời phải truyển được 500.000 đường điện thoại (32 Gb/s) thông tin cáp quang còn phải phát triển “tần số rộng”.

2. Phổ cập hóa mạng lưới thông tin

Nghjiax là liên kết mọi gia đình với nhau hình thành mạng lưới liên lạc toàn cầu. Một nội dung quan trọng nữa là “mạng lưới thông tin hỗ trợ lẫn nhau” tức là mạng lưới liên lạc song hướng và mở cửa.

3. Tổng hợp hóa dịch vụ

Tổng hợp làm một những thứ như điện thoại, Fax, tivi v..v… Tổng hợp hóa dịch vụ dựa vào số hóa tín hiệu và kỹ thuật đa chức năng.

4. Trí năng hóa hệ thống

Dựa vào máy tính thông minh và hàng loạt máy tính siêu nhỏ như máy tính phân biệt ngôn ngữ, máy tính mạng lưới điện thần kinh v..v… để nhập vào mạng lưới vận hành.

Ngoài ra mạng lưới này nối liền với mạng lưới thông tin vệ tinh quỹ đạo thấp, từ đó phổ biến khắp toàn cầu. Mạng lưới này còn nối liền với mạng lưới thông tin di động.

Siêu xa lộ thông tin được thành lập trên cơ sở khoa học kỹ thuật tổng hợp :

1. Khoa học kỹ thuật sợi quang

Mỗi sợi quang có thể truyền được 32 Gbit/s. Mỗi cáp quang có 32 sợi quang, đáp ứng đủ yêu cầu. Có phòng thí nghiệm đã ghi được kỷ lục mỗi sợi quangcostheer truyền tải 100 Gbit/s.

2. Kỹ thuật mạng lưới giao lưu với nhau

Đến năm 2001 số hộ sử dụng mạng Internet sẽ lên đến 110 triệu hộ, số người sử dụng mạng Internet sẽ vượt con số 300 triệu.

3. Kỹ thuật đa chức năng

Kỹ thuật nén nhỏ tín hiệu hiện nay có thể nén đến 1/20 ~ 1/50, kỹ thuật này vẫn còn đang phát triển. Vấn đề chủ yếu của máy đa chức năng là con chíp của máy tính loại mới có tính năng cao. Năm 1995, một con chíp nhỏ bằng móng tay có thể chứa 35 triệu mạch điện. Đến năm 2001 cũng con chíp nhỏ như vậy có thể làm được một tỷ mạch điện, hơn nữa còn có thể chế thành hai loại chức năng cố định và chức năng thay đổi. Kỹ thuật nạp đĩa quang đã có đĩa quang 12 inch loại mới ra đời có thể nạp vào 18.000 Gbit. Sự phát triển của kỹ thuật nén nhỏ tín hiệu, kỹ thuật nạp đĩa quang và kỹ thuật đa chức năng đã đáp ứng được yêu cầu tổng hợp hóa dịch vụ.

4. Kỹ thuật máy tính thông minh

Hiện nay tốc độ vận hành của máy tính loại siêu lớn có thể đạt được 1.000 G ký tự / giây. Trong vòng 5 năm đã tăng lên 100 lần. Chính phủ Mỹ đã đặt ra và bắt đầu thực thi kế hoạch làm việc của máy tính siêu cấp 1 triệu tỷ ký tự / giây, khiến công việc mà máy tính nhanh nhất hiện nay phải làm việc mất một năm, rút ngắn xuống còn 30 giây, từ đó có thể phối hợp với tốc độ truyền tải của sợi quang. Máy tính siêu nhỏ hiện nay đã nhỏ chỉ bằng cuốn vở ghi chép, máy phân biệt ngôn ngữ đã được ứng dụng, mẫu máy tính mạng lưới thần kinh cũng đã được xuất xưởng. Hai nước Nhật – Mỹ đang liên kết dốn sức vào việc phát triển máy tính biết tư duy.

CNTT phát huy vai trò tri thức là nguồn gốc và là nguồn lực phát triển kinh tế. CNTT sẽ giúp thông tin và tri thức phát huy được những mặt mạnh của mình như :

Con người thâm nhập vào mọi nguồn tri thức một cách dễ dàng và kịp thời, thâm chí tức thời, tạo ra những khả năng hợp tác vượt qua các giới hạn về không gian, thời gian và khác biệt về văn hóa, làm tăng giá trị của các nguồn tri thức. Thông tin và tri thức sau khi được sử dụng không những không mất đi mà càng sử dụng càng được hoàn thiện để tăng thêm giá trị.

Khu vực kinh tế thông tin là khu vực năng động nhất trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt ở các nước phát triển.

Theo tính toán năm 1996 tổng giá trị lĩnh vực này ở Mỹ khoảng 1000 tỷ USD chiếm 14% GDP . Hiện nay số nhân công làm việc trong các ngành máy tính, xử lý thông tin nhiều hơn số nhân công trong các ngành sản xuất ô tô, xây và ngành lọc dầu cộng lại. Công nghiệp CNTT không chỉ là ngành công nghiệp lớn nhất trên thế giới mà còn là ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong những năm gần đây.

Thời đại thông tin đang ở trước chúng ta, nhiều nước đang rời khỏi thời đại công nghiệp để tiến vào thời đại thông tin.

Năm 1996 để so sánh xếp hạng theo chỉ số xã hội thông tin, người ta đưa ra 12 chỉ số quan trọng xuyên quốc gia để so sánh 15 nước trên thế giới :

1. Số tivi trên 1000 người

Mỹ 806, Canada 709, Nhật 700, và Đức 493

2. Số tờ báo trên 1000 người

Hồng công 800, Na uy 593, Nhật 580, và Canada 159

3. Điện thoại cố định trên 1000 người

Thụy Điển 682, Mỹ, Thụy Sỹ 640, và Nhật 489

4. Điện thoại di động trên 1000 người

Phần Lan 293, Na Uy 287. Thụy Điển 282 và Đức 71

5. Máy chủ Internet trên 10.000 người

Phần Lan 654, Na Uy 475, Mỹ 442 và Hồng Công 75

6. Máy vi tính cá nhân trên 1000 người

Thụy Sỹ 409, Mỹ 362, Úc 311 và Nhật 128

7. Xuất khẩu công nghệ cao theo % GDP

Singapore 71, Mỹ 44, Hà Lan 42 và New Zealand 5

8. Tỷ trọng công nghệ cao trong chế tạo theo % tổng chế tạo

Mỹ Nhật 37, Anh 33 và New Zealand 5

9. Chỉ tiêu công cụ cho giáo dục theo % GDP

Na Uy, Đan Mạch 8,3, Phần Lan 7,6 và Hồng Công 2,8

10. Số cử nhân / một triệu người ở độ tuổi 25 ~ 34

Nhật 974, Anh 989, Úc 922 và Thụy Sỹ 302

11. Số nhà khoa học và kỹ sư trong R&D / 1 triệu người

Mỹ 963, Nhật 948, Đức 470 và New Zealand 11

12. Số nhân lực R&D trong dân cư trên 1 triệu người

Nhật 5677, Mỹ 3732, Thụy Điển 3714 , Đức 470 và New Zealand 19

Xếp thứ tự là : Mỹ, Thụy Điển, Phần Lan, Singapore, Na Uy, Đan Mạch, Hà Lan, Úc, Nhật , Canada, Thụy sỹ, Hồng Công, New Zealand, Anh và Đức.

Đây là khảo sát năm 1996, các chỉ số và thứ tự xếp hạng này sẽ còn luôn biến động. Nhưng qua đó cũng thấy Mỹ là nước dẫn đầu ở nhiều chỉ số quan trọng. Các công ty Mỹ là những người đầu tiên nhận thấy tầm quan trọng của máy vi tính và các công nghệ thông tin và đầu tư nhiều vào lĩnh vực này, chiếm khoảng 40% đầu tư của toàn bộ thế giới vào năng lực máy tính. Năng lực máy tính của Mỹ đã tăng hơn 25% mỗi năm. Mỹ thống trị Internet : 90% các địa chỉ Web là của Mỹ, khoảng 50 ~ 60 triệu người Mỹ đã nối mạng, khoảng 10% trong số đó sử dụng Internet thường xuyên để mua hàng hóa và dịch vụ.

Phần Lan đạt tiêu chuẩn cao về giáo dục. Nền kinh tế Phần Lan đã được đa dạng hóa để tiến vào công nghệ mới. Tỷ trọng của các ngành công nghệ cao đã tăng gấp 5 lần trong 10 năm qua. Nokia trở thành biểu tượng cho sự chuyển đổi sang công nghệ mới của nước này. Từ một công ty bột giấy và giấy, qua 10 năm công ty này đã nhanh chóng trở thành một trong 3 công ty điện thoại di động hàng đầu thế giới. Nokia chiếm 15% tổng xuất khẩu của Phần Lan. Singapore là một trong những nước đầu tiên hướng đến nền kinh tế tri thức. Năm 1997 ngành công nghiệp thông tin của Singapore có doanh thu 7,3 tỷ USD. Singapore là nước có mạng kết nối toàn quốc duy nhất trên thế giới và sẽ đưa tất cả các dịch vụ then chốt của chính phủ lên mạng trước năm 2001, 50% hoạt động kinh doanh trở thành hoạt động thương mại điện tử trước năm 2003. Dự đoán mới nhất của tập đoàn dữ liệu quốc tế là trong 3 năm tới Singapore sẽ vượt lên trở thành nền kinh tế thông tin đứng thứ hai thế giới.

Nhật Bản đang nỗ lực khắc phục tình trạng trì trệ hiện nay bằng cách tăng cường đầu tư vào công nghệ thông tin. Ngày 17/10/2000 Nhật Bản đưa ra kế hoạch xây dựng “ Nhật Bản điện tử” với 37 tỷ USD. Kế hoạch này sẽ xây dựng mạng lưới vi tính rộng khắp nước Nhật và nâng cao kỹ năng công nghệ thông tin cho người dân. Theo đó 100.000 máy vi tính sẽ được lắp đặt tại các công sở, trường học và các siêu thị.

Để có thể phát triển cơ sở CNTT, nhiều quốc gia đều coi việc xây dựng hạ tầng cơ sở thông tin là vấn đề ưu tiên hàng đầu.

Hạ tầng cơ sở thông tin bao gồm hệ thống tích hợp các mạng truyền thông, các máy tính, các cơ sở dữ liệu, các dịch vụ, các phương tiện điện tử dân dụng v..v…

Mạng truyền thông đa phương tiện và đa dịch vụ là xương sống cuả hạ tầng cơ sở thông tin quốc gia, trên cơ sở các mạng cáp quang, cáp đồng trục, vi ba và vệ tinh sẽ đồng thời phát triển với kỹ thuật nén số ngày càng hoàn thiện.

Chương trình cáp quang hóa toàn cầu sẽ được triển khai rộng rãi từ năm 2005 trở đi. Các mạng máy tính quốc gia, quốc tế ngày càng phát triển rộng rãi hơn, có khả năng liên kết toàn cầu.

Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ để công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết TW2 (khóa 8) đã chỉ thị : Chiến lược phát triển đất nước ta là chiến lược dựa vào tri thức và thông tin, chiến lược đi tắt đón đầu với mũi nhọn là công nghệ thông tin. Nghị quyết số 26 – NQ/TƯ ngày 30/3/1991 đã nêu : Tập trung phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học v..v…

Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 BCH TƯ (khóa VII) ngày 30/7/1994 xác định : Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, như công nghệ thông tin, phục vụ yêu cầu điện tử hóa và tin học hóa nền kinh tế quốc dân, tạo sự chuyển biến rõ rệt về năng xuất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế quốc dân v..v…

Để thể chế hóa về mặt Nhà nước, Chính phủ đã ban hành nghị quyết số 49/CP ngày 4/8/1993 về “ Phát triển CNTT ở Việt Nam trong những năm 90”

Ngày 5/6/2000 Chính phủ lại ra nghị quyết số 07/2000/NQ-CP về xây dựng và phát triển công nghiệp phần mềm giai đoạn 2000 ~ 2005.

Và Ngày 17/10/2000 BCH TƯ Đảng đã ban hành chỉ thị số 58/CT-TƯ về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Mục tiêu là đến năm 2010 CNTT Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Nghị quyết nêu lên 5 chủ trương với 5 nhiệm vụ và 5 giải pháp. Trong nghị quyết nêu rõ : ứng dụng và phát triển CNTT là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước. Ưu tiên đầu tư cho ứng dụng và phát triển CNTT trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, áp dụng chính sách đặc biệt cho việc đào tạo bồi dưỡng chuyên gia giỏi, nhân tài trong lĩnh vực CNTT. Tuy nhiên trong báo cáo của Thủ tướng Chính phủ tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa 10 cũng đã chỉ rõ : “Khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo và việc phát huy nhân tố con người chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là về chất lượng v..v… Cải cách hành chính có tiến bộ về đổi mới thể chế nhưng chậm chuyển biến về bộ máy và con người. Đặc biệt nghiêm trọng là luật pháp, chính sách ban hành không được chấp hành nghiêm chỉnh, ngay cả trong bộ máy hành chính”.

Thế kỷ mới đang đến với những thách thức to lớn đòi hỏi hội nhập vào xu thế toàn cầu hóa của nền kinh tế thông tin và trí tuệ. Là một nước đi sau, muốn rút ngắn khoảng cách phát triển, chúng ta không có cách lựa chọn nào khác, ngoài việc tạo ra sự sử dụng tốt nguồn trí tuệ cao như một yếu tố nội sinh có tính quyết định. Chúng ta cần mạnh dạn đổi mới tư duy về việc đào tạo con người cho hôm nay và cả tương lai.

III. Giáo dục và đào tạo trong nền kinh tế tri thức

Thời đại thông tin đang đề ra nhiều thách thức to lớn đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo ở tất cả các nước, không phân biệt giầu nghèo.

1. Thời đại thông tin làm cho năng lực giao lưu tức thời của con người tăng trưởng nhảy vọt

2. Thời đại bùng nổ thông tin vô hình chung đã xóa đi ngăn cách của mọi quốc gia về kinh tế cũng như khoa học kỹ thuật

3. Thời đại thông tin dẫn đến sự nhất thể hóa kinh tế thế giới, mọi nước đều tham gia hoạt động kinh tế toàn cầu

4. Thời đại thông tin tạo ra xã hội dịch vụ kiểu mới, thế giới đang quá độ từ xã hội công nghiệp đến xã hội dịch vụ. Điều đó làm thay đổi tỷ lệ giữa lao động chân tay và lao động trí óc.

5. Thời đại thông tin tạo ra nhiều phương thức làm việc mới năng động hiệu quả, phải đào tạo những người có trình độ cao mới đáp ứng nổi cách làm việc mới.

6. Thời đại thông tin mở ra xu thế mở rộng hợp tác trong khu vực và toàn thế giới

7. Thời đại thông tin là thời đại của trí tuệ và vai trò tự thân của cá nhân.

Có thể nói thế giới đang tăng tốc giáo dục trên con đường tiến vào nền kinh tế tri thức. Các nước Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Nga, … đều lấy mốc năm 2000 làm đích hoàn thành cuộc cải cách giáo dục để đáp ứng những xu thế mới của thế kỷ 21. Các nước Đông Nam Á cũng đều có mục tiêu là thay đổi tận gốc khái niệm về dạy và học. Bộ Giáo duch Malaixia quyết định “Thông tin hóa” hoàn toàn 90 trường học, trong đó 30% nằm ở vùng nông thôn, học sinh có thể học tập theo nhịp độ riêng của mình và chỉ dự thi khi đã sẵn sàng. Các bài khóa về khoa học kỹ thuật, toán, tiếng Anh đều được đưa vào CD – ROM. Singapore dự định đầu tư 2,9 tỷ USD vào việc hiện đại hóa 290 trường học trong 7 năm tới. Viện giáo dục quốc gia đề ra chương trình “Học tư duy” khuyến khích học sinh bày tỏ ý kiến riêng của mình, nền giáo dục cho phép linh hoạt và hợp tác trong việc thu nhận kiến thức.

Tháng 3/1999 Hạ viện Thái Lan thông qua đạo luật cải cách giáo dục, đạo luật này đánh dấu một đảo ngược trật tự ưu tiên: Hướng vào nền giáo dục lấy học sinh làm trung tâm, coi trọng tư duy sáng tạo, khả năng phân biệt hơn là trí nhớ. Luật cải cách giáo dục cũng cho phép cha anh học sinh và quan chức địa phương tham gia quản lý trực tiếp các trường học. Giáo viên không buộc phải tuân thủ sít sao chương trình quốc gia.

Trung quốc cũng đã đề ra 5 phương hướng chỉ đạo phát triển giáo dục : Hiện đại hóa, hướng ra thế giới, hướng tới tương lai, nâng cao tố chất con người và phục vụ phát triển kinh tế xã hội.

Ngày nay sự phồn vinh của một quốc gia trong thế kỷ 21 sẽ phụ thuộc vào khả năng học tập của dân chúng. Nếu như khoa học và công nghệ là động lực trực tiếp của công nghiệp hóa và hiện đại hóa thì giáo dục đào tạo sẽ là nguồn lực trực tiếp cho khoa học công nghệ, đặc biệt là nguồn nhân lực có trí tuệ cao. Việc đầu tư vào con người để phát triển kinh tế xã hội đang là một vấn đề sống còn của các quốc gia. Con người được giáo dục tốt và biết tự giáo dục thường xuyên mới có khả năng giải quyết một cách sáng tạo và có hiệu quả những vấn đề do sự phát triển xã hội đặt ra. Việc quy tụ, đào tạo,sử dụng nhân tài đã trở thành trung tâm trong chiến lược cạnh tranh của các nước trong thời đại văn minh trí tuệ hiện nay.

Như vậy, đi vào nền kinh tế tri thức phải có một cuộc cách mạng trong giáo dục, hay nói đơn giản là cải cách giáo dục. Phải cải tổ về căn bản hệ thống giáo dục và phổ cập chế độ học liên tục, học suốt đời cho mọi người. Mọi người phải học tập thường xuyên, học ở trường và học trên mạng để không ngừng trau đồi kỹ năng, phát triển trí sáng tạo. Hệ thống giáo dục phải bảo đảm cho mọi người bất cứ ở nơi đâu, bất cứ lúc nào cũng có thể học tập được. Mạng thông tin có ý nghĩa rất quan trọng trong việc học tập suốt đời.

Thời đại thông tin, kinh tế tri thức tạo ra những biến đổi rất sâu sắc và nhanh chóng. Cho nên giáo dục đào tạo phải nhằm mục đích phát triển toàn diện con người một cách bền vững. Ở một số nước đã bắt đầu dạy tương lai học. Nhiều nước rất chú ý tới việc tăng cường cho học sinh năng lực giao tiếp, kể cả năng lực giao tiếp với nước ngoài. Yêu cầu mỗi học sinh, sinh viên phải thông thạo ít nhất một ngoại ngữ và học tập hiểu nền văn hóa của các nước.

Nền kinh tế nước ta bây giờ vẫn còn là nền kinh tế sức người với một số yếu tố ban đầu của nền kinh tế tri thức. Nhưng tương lai không xa chắc chắn sẽ sớm tham gia vào nền kinh tế tri thức. Chiến lược giáo dục đào tạo phát triển con người của chúng ta phải đáp ứng yêu cầu của cả ba nền kinh tế : kinh tế lao động, kinh tế tài nguyên và kinh tế tri thức, tức là đồng thời phải thực hiện hai nhiệm vụ chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Những định hướng cơ bản phát triển nền giáo dục của nước ta đã được đề ra trong nghị quyết TW2 (khóa 8) và đã được cụ thể hóa trong chiến lược phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2010 của Chính phủ. Tuy nhiên bài toán mà ngành giáo dục nước ta phải tập trung giải quyết lại khá phức tạp. Đó là sự nghiệp giáo dục đang đứng trước mâu thuẫn lớn giữa một bên là yêu cầu cao cả về quy mô chất lượng và một bên là khả năng và điều kiện đáp ứng yêu cầu còn nhiều hạn chế. Để giải quyết mâu thuẫn này chúng ta phải nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, phát huy nội lực, phát triển sự nghiệp giáo dục theo tinh thần xã hội hóa, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt. Đồng thời tích cực tranh thủ hỗ trợ của quốc tế. Phải hết sức coi trọng môn tin học và công nghệ thông tin, qua đó đi đến môn công nghệ cao khác. Chú trọng các môn hình thành và phát triển các năng lực chung, các kỹ năng cơ bản có thể ứng dụng vào nhiều lĩnh vực hoạt động, mục tiêu cuối cùng là giáo dục đạo đức và tay nghề.

Mục tiêu của Việt Nam về phát triển con người đến năm 2020 là :

Nâng chỉ số HDI từ bậc 110/174 lên bậc 80 ~ 85/174 trong bảng xếp hạng của thế giới, với vị trí đó, nước ta sẽ đạt được trình độ phát triển trung bình của thế giới vào thời điểm năm 2020. Về xếp hạng GDP/đầu người với mức tăng GDP 7,2% năm (mức tăng dân số 1,3 ~ 1,5% năm) có thể từ bậc 180/210 hiện nay lên bậc 150/210 vào năm 2020.

Nguyên lý giáo dục là

Nguyên lý thứ nhất : “Học để biết” phải gắn với “Học để làm”

Nguyên lý thứ hai : Học suốt đời, học thường xuyên

Nguyên lý thứ ba : Hình thức dạy và học phải được cá thể hóa cao độ, lấy tự học làm hình thức chủ yếu.

Phương pháp giáo dục lấy trò làm trung tâm hướng vào việc kích thích rèn luyện, phát huy khả năng suy nghĩ và học tập một cách tự chủ, năng động, sáng tạo trong học tập ở trường, ở nhà và trong môi trường xã hội, tạo ra phong cách học tập chủ động, hứng thú, vui vẻ. Nền giáo dục nước nhà đang phấn đấu tăng cường giáo dục truyền thống dân tộc, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc để tồn tại trong thế giới toàn cầu hóa đầy cạnh tranh và thách thức. Như vậy là cùng với tăng cường giáo dục kỹ thuật, phổ cập công nghệ, chú trọng tin học, trong thời đại công nghệ thông tin và kinh tế tri thức, phải hết sức coi trọng giáo dục nhân văn, nhân bản, làm phong phú thêm văn hóa chung của nhân loại, bảo vệ loài người, đi liền với giữ gìn độc lập dân tộc, đấu tranh và hợp tác trên cơ sở mỗi người được tự do phát triển là điều kiện cho người khác được tự do phát triển.

Đi vào biện pháp chiến lược cần chú ý mấy vấn đề :

1. Chuẩn hóa : Chuẩn hóa mọi thứ, từ thày giáo, chương trình, sách giáo khoa đến lớp học, thiết bị dạy học, trường học, nhất là trình độ phải đạt được sau mỗi cấp học, bậc học đều phải đạt chuẩn, lúc đầu là chuẩn quốc gia, dần dần đến chuẩn quốc tế.

2. Hiện đại hóa :Trước hết là nội dung giáo dục, chương trình, sách giáo khoa và cùng với đó là cơ sở vật chất, thiết bị dạy học. Đặc biệt phương pháp dạy học, sách giáo khoa phải hiện đại hóa. Ngày nay nói đến hiện đại hóa không thể không nói đến tin học và sử dụng Internet.

3. Dân chủ hóa : Dân chủ hóa giáo dục, dân chủ hóa nhà trường và dân chủ hóa quản lý giáo dục.

4. Xã hội hóa giáo dục : Nâng cao trách nhiệm của mọi người đối với giáo dục thế hệ trẻ tạo nên môi trường giáo dục thống nhất tốt đẹp của xã hội, gia đình, nhà trường. Xã hội hóa giáo dục gắn liền với đa dạng hóa các nguồn lực cho giáo dục

5. Đa dạng hóa : Đa dạng hóa các hình thức trường lớp trên cơ sở mục tiêu đào tạo, nội dung giáo dục, chuẩn kiến thức.

Nền kinh tế tri thức đang tạo ra bước ngoặt mới trong lịch sử phát triển của loài người, đang trở thành tiêu điểm quan tâm của quảng đại dân chúng. Ngày nay hành trang quan trọng nhất của lớp trẻ giúp họ vào đời không phải là tiền bạc cũng không phải là lợi thế về địa vị hoặc quan hệ xã hội, mà chính là tri thức. Mỗi người chúng ta cần sáng suốt nắm bắt lấy cơ hội, tạo mọi điều kiện cho lớp trẻ bắt kịp chuyến tàu đang chuyển nhanh sang thời đại mới : Thời đại thông tin, học tập, trí tuệ và văn minh.

Hà Nội ngày 5 tháng 1 năm 2001

Hội KHKH phường Khương Mai
Vũ Đình Hộ

 Ý KIẾN CỦA BẠN VỀ BÀI VIẾT NÀY
  Họ tên:
   Email:
  Đơn vị công tác:
   Giới thiệu về bản thân:
   Hình ảnh của người tham gia:  
Nội dung (Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)
Các tin mới đưa
Hội KHKT Phường Khương Mai tổ chức hội thảo khoa học: 40 năm Điện biên phủ trên không (4/10/2012)
Tin khoa học tham khảo (tiếp 2) (25/5/2011)
Tin khoa học tham khảo (tiếp) (14/5/2011)
Tin khoa học tham khảo 2011 (29/4/2011)
Các tin đã đưa
Tìm hiểu về nền kinh tế tri thức ( Phần 1) (27/11/2009)
Hoạt động khoa học của Hội KHKT Phường Khương Mai (7/11/2009)
Chuyên mục quảng cáo
www.tamnguyen.vn - Thiết kế website chuyên nghiệp
www.quangcaoso.vn - Website quảng cáo rao vặt hàng đầu Việt Nam
www.raovatTOP.com - Website Rao vặt hàng đầu Việt Nam
Đào tạo SEO - Khóa học giúp bạn đưa hàng nghìn từ khóa lên top 1
www.webhoidap.com - Cộng đồng hỏi đáp Việt Nam
 THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
Lĩnh vực Nội vụ (1 - 2)
Lĩnh vực Giáo dục & ĐT (3 - 7)
Lĩnh vực Thanh tra (8 - 11)
Lĩnh vực Y tế (12)
L.vực Lao động TB&XH (13 - 78)
Lĩnh vực Tư pháp (79 - 113)
Lĩnh vực Văn hoá -TT (114 - 118)
L.vực Địa chính Đô thị (119 - 128)
Lĩnh vực Tài chính (129 - 130)
Đăng ký khai sinh trực tuyến
Đăng ký kết hôn trực tuyến
Nộp thuế nhà đất trực tuyến
 NHỮNG BÀI THƠ ĐƯỢC XEM NHIỀU NHẤT
Lời ru của thầy.
Nhớ cô giáo trường làng cũ..
Lời chúc đầu xuân
QUÊ HƯƠNG
Vô Đề
Xuân Canh Dần – Mừng thọ các cụ cao tuổi
Tuổi cao
Cựu chiến binh giữa thương trường
Nụ cười Khương Mai
Hoan hô phụ lão Khương Mai
 THÔNG TIN HOẠT ĐỘNG
Phát động cuộc thi sáng tác Thơ, Ca khúc viết về Phường
Hoạt động bầu cử Quốc hội khoá XIII và HDND các cấp tại phường Khương Mai
Hướng tới kỷ niệm 15 năm ngày thành lập phường Khương Mai
Báo cáo tổng kết HĐND Phường, nhiệm kỳ 2004-2011
Báo cáo kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2010, phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2010
Báo cáo thực hiện nhiệm vụ năm 2009 và phươing hướng nhiệm vụ năm 2010
Báo cáo chuyên đề Sơ kết một năm thực hiện mô hình Tổ dân phố
Sơ kết công tác 3 tháng đầu năm 2009
 ĐÁNH GIÁ MỚI NHẤT
Tôi đã đến " E phường" Khương Mai
Một số mẫu Quyết định, Công văn, Tờ trình, Giấy mời
Sôi nổi các hoạt động thể thao chào mừng ngày 30/4 và 1/5
Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Khương Mai lần thứ V nhiệm kỳ 2012 - 2017 đã thành công tốt đẹp.
Ứng dụng thanh toán điện tử vào thu thuế nhà đất của Phường
  DIỄN ĐÀN PHƯỜNG KHƯƠNG MAI
Tham gia, góp ý xây dựng Mô hình Tổ dân phố - phường Khương Mai
Các tổ chức, cá nhân quan tâm đến mô hình tổ chức hoạt động của Tổ dân phố ở phường, thị trấn xin đóng góp ý kiến và những kinh nghiệm quý báu để chúng tôi cùng trao đổi.
Rượu Tỏi (thần dược!!!)
E - phường
Gửi ý kiến »     Xem chi tiết  »